Giao khu vực biển cho cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên: Thêm nhiều chuyên gia lên tiếng

PDFPrintE-mail

There are no translations available.

Sau khi phụ trương An ninh biên giới của báo Biên phòng đăng tải loạt bài phản ánh dư luận nhân dân về nội dung dự thảo Nghị định quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng, chúng tôi tiếp tục nhận được ý kiến phản biện của các nhà quản lý, các chuyên gia về vấn đề này. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Chuẩn Đô đốc Lê Kế Lâm, Chủ tịch Hội Biển TP Hồ Chí Minh: Không được chia cắt manh mún vùng biển, bờ biển

Biển, trời là một không gian liên hoàn, luôn luôn có sự trao đổi vật chất như không khí, nhiệt độ, hơi nước, khối nước... không giới hạn, không chia cắt được. Xác định rõ ranh giới cố định của một vùng biển nào đó là một việc làm khó, rất dễ xảy ra những tranh chấp hết sức phức tạp, tuy rằng ngày nay, khoa học, công nghệ phát triển đã giúp cho các phương pháp định vị truyền thống và thêm hệ hống định vị bằng vệ tinh được nhanh chóng, chính xác hơn. Việc xác định khu vực biển như trong điểm b, Điều 20, Chương IV của dự thảo nghị định còn mơ hồ, chưa chặt chẽ, rất dễ xảy ra tranh cãi (khu vực biển nằm trong 3 hải lý trở ra) giới hạn ngoài cùng đến đâu? Có vào vùng chồng lấn với nước khác không?

Theo tôi, nghị định này phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề sau: Thứ nhất là bảo đảm sự liên thông, liên kết không gian và vùng biển của Việt Nam. Không được chia cắt manh mún vùng biển, bờ biển cũng như vùng đất dưới đáy biển khi giao khu vực biển cho những tổ chức, cá nhân. Các tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển nhất định không được "cát cứ" vùng biển đó. Thứ hai là tôn trọng tập quán, truyền thống làm ăn lâu đời của ngư dân, cư dân ven biển, ở các vùng đầm phá, vùng vịnh, cửa sông, bãi ngang... Thứ ba là Nhà nước, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý vùng, khu vực biển phải nắm được trữ lượng tài nguyên như sa khoáng, trầm tích có giá trị. Thứ tư là những vùng, khu vực biển có tầm quan trọng, có vai trò địa chiến lược trong việc phòng thủ quốc gia từ hướng biển, những vụng, vịnh, cửa sông lớn, sâu, những hải đảo lớn gần bờ cần có ý kiến của Bộ Quốc phòng trước khi giao cho tổ chức, cá nhân khai thác. Vì việc cơ động và trú đậu của tàu mặt nước, đặc biệt là tàu chiến các loại, tàu ngầm và máy bay không chỉ bó gọn trong một vài căn cứ hải quân mà hoạt động, cơ động trên khắp vùng biển Việt Nam và trú đậu, tránh gió bão ở những vụng, vịnh, cảng được xác định là an toàn cho từng cơn bão cụ thể. Thứ năm, khi giao những vụng, vịnh, bờ biển khúc khuỷu cho tổ chức, cá nhân phải kinh doanh đúng ngành nghề biển, giữ gìn những nơi đó như tự nhiên nó có, để đảm bảo cho hoạt động của tàu thuyền dân sự và quân sự bình thường trong thời bình và có nơi sơ tán, trú tránh tập kích đường không khi đất nước bị chiến tranh.

Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: Phải tiến hành theo một tiến trình và có quy hoạch

Hiện tại, chúng tôi đang thực hiện bảo tồn vùng biển Cù Lao Chàm. Khi mới giới thiệu khái niệm bảo tồn biển với cộng đồng từ những năm 2003, 2004 đến nay đã nảy sinh các mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm cộng đồng với nhau, khi một số sinh kế hỗ trợ được cung cấp dựa vào phát triển du lịch và tiến đến các mâu thuẫn giữa người khai thác trong khu bảo tồn và ngoài khu bảo tồn khi nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn tăng lên theo thời gian. Từ thực thế trên, nhiều lúc, chúng tôi nghĩ đến việc cần phải giao một khu vực biển nhất định cho người dân địa phương quản lý nhằm bảo vệ và khai thác ổn định tại địa phương mình. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu như chúng ta không làm tốt công tác bảo tồn biển, không nâng cao nhận thức cộng đồng về các giá trị tài nguyên có được, về các hệ sinh thái... hoặc không có sự hỗ trợ nâng cao năng lực trong xây dựng và phát triển các khả năng sinh kế hỗ trợ gắn liền với bảo tồn biển, các tăng cường về mặt tuần tra, kiểm soát... thì liệu người ngư dân có đủ khả năng để quản lý, bảo vệ nguồn lợi trong vùng ngư trường mà mình hằng khai thác một cách bền vững hay không? Tôi nghĩ rằng ngư dân của chúng ta có thể nhận được trách nhiệm này và làm được với điều kiện là Nhà nước phải tăng cường hỗ trợ cho cộng đồng về mặt nâng cao nhận thức, năng lực, khả năng tìm kiếm sinh kế hỗ trợ gắn liền với bảo tồn... Khi nhận thức và năng lực của ngư dân trong cộng đồng đó được nâng cao, thì họ sẽ đảm đương công việc này cùng với Nhà nước. Quản lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường biển có nhiều điểm khác biệt với những gì chúng ta làm trên cạn hay trên đất liền, bởi vì tài nguyên và môi trường biển chịu tác động và chi phối không chỉ bởi gắn kết mật thiết với đất liền thông qua các dòng sông, các vùng cửa sông, ven bờ, mà còn kết nối với đại dương mênh mông thông qua các quy luật tự nhiên của biển cả.

Vì những lẽ đó, việc giao một vùng biển nhất định cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường một cách hợp lý tiến đến bền vững cần phải được tiến hành theo một tiến trình có quy hoạch. Và đó phải là một quá trình, trong đó, phương thức đồng quản lý tài nguyên, môi trường biển cần được áp dụng. Chúng ta không thể khoán trắng cho ngư dân hay một cộng đồng ven biển một vùng ngư trường nhất định một cách nhanh chóng, đơn giản bằng các quyết định và mong muốn được ngay là hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên, môi trường được nâng cao. Đó phải là một quá trình giữa Nhà nước và nhân dân cùng làm cùng hưởng lợi.

Tiến sĩ khoa học Nguyễn Tác An, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Kỹ thuật Biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học, nguyên Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Chương trình Hải dương học Liên Chính phủ của Việt Nam: Nên giao mặt biển cho ngư dân ở các đảo xa

Giao khu vực biển cho cá nhân khai thác là vấn đề rất quan trọng, "nhạy cảm", đang được dư luận xã hội quan tâm. Có thể nói, nghị định này có tính "bản lề", quyết định sự "thăng hoa" cho các lĩnh vực kinh tế ven biển theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, nội hàm của nghị định này là hết sức phức tạp vì nó liên quan đến hiến pháp, thể chế, mô hình quản lý truyền thống và tư duy phát triển hiện nay. Lâu nay ở Việt Nam có câu "điền tư, ngư công" , nghĩa là "vùng biển là của chung". Hơn ngàn năm nay, người Việt Nam vốn quen làm ăn, sử dụng, khai thác các vùng biển hoàn toàn tự do, phụ thuộc vào sở thích, thói quen và tiềm lực của bản thân. Hệ lụy là sử dụng không gian biển không hiệu quả, gây nhiều lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm suy thoái môi trường, nguồn lợi, đa dang sinh học, gây nhiều mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ ngư dân và giữa các ngành nghề biển khác nhau.

Xu thế hiện nay là nhân loại muốn "lấy biển và đại dương nuôi đất liền" ngược lại với xu thế đã qua, đất liền phải nuôi biển, nên các quốc gia có biển đều coi trọng vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền. Do đó, tôi nghĩ, giao biển cho các tổ chức, cá nhân để quản lý, khai thác là phù hợp với xu thế chung và đó chính là tiền đề gia tăng việc khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, môi trường biển. Đặc biệt là nên "ưu ái" giao mặt biển cho ngư dân ở các đảo xa ngoài khơi sử dụng, khai thác, tạo thêm sức mạnh cộng đồng trong công cuộc phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Đó cũng là nhiệm vụ xây dựng và mở rộng các điểm tựa chủ quyền về mặt pháp lý quốc tế theo luật biển trong việc đấu tranh khẳng định chủ quyền ở Biển Đông.

Nhưng vấn đề ở đây là giao như thế nào ? Giao cho ai ? Làm sao để kiểm soát, quản lý "công việc" đầy "nhạy cảm" này? Phải suy nghĩ, cân nhắc hết sức khoa học và cụ thể khi ban hành các định chế, chế tài và cơ chế trong quá trình triển khai.

Nguồn Báo Biên phòng


Newer news items:
Older news items:

...