Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm – Một chuẩn bị cho sự trở về của Rùa biển

PDFPrintE-mail

There are no translations available.

UntitledRùa biển là nhóm sinh vật cổ xưa, không có sự thay đổi lớn trong quá trình tiến hoá hàng triệu năm, lâu hơn cả khi con người xuất hiện trên hành tinh xanh của chúng ta. Tuy nhiên chỉ trong khoảng một thế kỷ qua, đặc biệt là 50 năm gần đây những hoạt động sống của con người đã làm cho các loài rùa biển đang đứng bên bờ tuyệt chủng trên khắp thế giới.

Sự suy giảm số lượng một cách nhanh chóng bị ảnh hưởng từ khai thác quá mức của con người, sự thay đổi môi trường cộng thêm các mối bất lợi của thiên nhiên vốn có từ trước; đồng thời các phương tiện đánh bắt hải sản hoạt động ở vùng nước nông ven bờ, nơi kiếm ăn của đa số các loài rùa biển, như lưới giả, lưới rê, lưới vây, câu vàng,… là mối đe doạ chính gây nên tử vong của các loài này.

Hầu hết các quần thể rùa biển đều suy thoái nghiêm trọng trong các vùng có cư dân sinh sống. Tất cả các loài rùa biển đều có nguy cơ tuyệt chủng. Hiện nay, có 7 loài rùa biển được tìm thấy với số lượng rất ít còn lại trên thế giới, đó là: Vích/Rùa Xanh (Chelonia mydas); Đồi Mồi (Eretmochelys imbricata); Quảng Đồng/Rùa Đầu To (Caretta caretta); Đồi Mồi Dứa (Lepidochelys olivacea); Rùa Kempii (Lepidochelys kempii); Rùa Lưng Phẳng (Natator depressus); Rùa Da (Dermochelys coriacea). Các quần thể rùa biển tại Việt Nam cũng đang bị suy thoái. Hiện nay các vùng còn có rùa biển đẻ trứng với số lượng đáng kể là Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), quần đảo Trường Sa (Khánh Hoà), quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng); có 5/7 loài rùa biển được tìm thấy ở các vùng biển Việt Nam đó là: Vích/Rùa Xanh (Chelonia mydas); Đồi Mồi (Eretmochelys imbricata); Quảng Đồng/Rùa Đầu To (Caretta caretta); Đồi Mồi Dứa (Lepidochelys olivacea); và Rùa Da (Dermochelys coriacea) [1].

Rua_bien_article_2

Hình 1: Rùa lên bãi đẻ tại Hòn Bảy Cạnh, Côn Đảo, Bà Rịa – Vũng Tàu (photo: Chu Mạnh Trinh)

Tất cả các loài rùa biển đều sinh sản trên các bãi biển ở khắp thế giới. Chúng có vòng đời chung và chỉ thay đổi một ít tuỳ thuộc loài. Các loài rùa biển đều di cư, ít nhất là trên quãng đường ngắn, từ vùng tìm thức ăn đến vùng kết cặp và giao phối, sau đó rùa đực trở về vùng tìm thức ăn và rùa cái lên bãi làm tổ. Sau mùa làm tổ, chúng trở về vùng tìm thức ăn và bắt đầu cho kỳ sinh sản mới (sau một vài năm tới). Rùa con sau khi nở, bò lên mặt tổ; chúng lập tức bò ngay xuống biển và bơi ra khơi xa cho cuộc hành trình di cư phát triển (trong một vài năm đến vài chục năm) [1].

Rua_bien_article_1

Hình 2: Sơ đồ vòng đời rùa biển (Rùa Xanh – Chelonia mydas) [1].

Vòng đời của rùa biển có thể được chia làm 4 giai đoạn bao gồm: (i) giai đoạn trưởng thành được tính từ lúc rùa thành thục về sinh sản trở về nơi chúng được sinh ra để làm tổ cho đến cuối cuộc đời, nếu không bị địch hại; (ii) giai đoạn phôi thai và ấp trứng được tính từ lúc trứng được đẻ ra cho đến trước khi rùa con được nở trong lòng đất, thường từ 40 đến 86 ngày, đây là giai đoạn rất nhạy cảm với sự tác động của con người và tự nhiên, tỷ lệ thất thoát ở giai đoạn này là rất cao, có thể trên 47% số lượng chỉ do tác động của tự nhiên như thường tìm thấy tại Côn Đảo; (iii) giai đoạn rùa con được tính từ lúc rùa con được nở ra trong lòng đất, bò lên mặt tổ, định hướng bò về biển và bơi ra khỏi vùng nước nông, cũng giống như giai đoạn phôi thai và ấp trứng, nó rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, thời gian chỉ từ 1 đến 7 ngày, tỷ lệ thất thoát ở giai đoạn này có thể lên đến trên 60% số lượng; (iiii) giai đoạn rùa con đến trước khi trưởng thành còn gọi là giai đoạn mất hút hay giai đoạn biển khơi, giai đoạn di cư phát triển, rất ít thông tin khoa học về giai đoạn này, thời gian có thể rất lâu như từ 35 đến 50 năm đối với rùa xanh [1]. Các loài rùa biển là những mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái biển, trước đây rùa biển phân bố hầu hết trên các vùng biển của nước ta với mật độ cao, chúng được xem như là sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường biển. Tuy nhiên do khai thác và sử dụng không hợp lý trong một thời gian dài, đến nay nguồn lợi rùa biển đã suy giảm nghiêm trọng và chúng có nguy cơ đứng trước sự tuyệt chủng. Các loài rùa biển bị khai thác trong thời gian dài để làm thực phẩm và các mặt hàng khác. Việc buôn bán các sản phẩm từ rùa biển tập trung chính vào mai, thịt, dầu, và da của chúng. Ngoài ra các lợi ích từ rùa biển còn tập trung vào du lịch, hoạt động nghiên cứu, giáo dục, việc làm, và vai trò của chúng đối với môi trường…Chúng cũng là nguồn tài nguyên sinh thái học có giá trị, là một thành phần thống nhất tham gia trong các hệ sinh thái phức tạp. Đồng thời tình trạng tốt của các hệ sinh thái này có liên quan đến các sản phẩm có thể khai thác phục vụ cho con người. Nhiều vùng trên thế giới rùa biển gắn liền với phong tục, nền văn hoá và tôn giáo. Vì vậy, chất lượng sống của các quần thể rùa biển có liên quan đến chất lượng sống của con người [1]. Để tạo điều kiện thuận lợi cho rùa biển được phục hồi và phát triển, việc xây dựng các khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ các vùng tìm thức ăn và sinh sản, các vùng di cư, hoặc cũng như thực hiện hiệu quả các chương trình phục hồi khác đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự chuẩn bị cho rùa biển trở về nơi đã từng là quê hương của chúng. Hơn nữa, việc bảo tồn rùa biển không những là lợi ích trực tiếp trong việc khai thác tài nguyên, mà còn là nghĩa vụ quốc gia của các nước tham gia trong các công ước, hiệp hội quốc tế và trong khu vực về bảo vệ rùa biển.

Rua_bien_article_3

Hình 3: Ngư dân Cù Lao Chàm tự nguyện thả lại rùa biển đi tìm thức ăn bị “dính” lưới về với đại dương (photo: Chu Mạnh Trinh)

Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm với diện tích hơn 235 km2 bao gồm 7 hòn đảo lớn nhỏ, sở hữu trong đó 9 bãi biển hoang sơ, nơi đã từng là bãi đẻ của nhiều loài rùa biển, đặc biệt là Đồi Mồi (Eretmochelys imbricata), trong những năm trước đây, nay đang hồi phục trở lại, là sự chuẩn bị cho rùa biển trở về [3]. Cùng với việc quy hoạch phân vùng chức năng bảo vệ, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã thiết lập một sự ổn định và hợp lý trong khai thác, đánh bắt thuỷ sản, nhằm bảo vệ các sinh cảnh nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường và tác động của con người như rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, dãi đá ngầm…và đặc biệt các vùng khai thác hợp lý, nghiêm cấm các ngành nghề huỷ diệt như giã cào, xung điện…đã và đang tạo thuận lợi cho rùa biển trở về với các bãi đẻ, vùng tìm thức ăn, hoặc nơi di cư một cách an toàn. Rùa biển là loài sinh vật có sinh cảnh rộng lớn và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Việc thành lập các khu bảo tồn biển cũng góp phần bảo vệ, nghiên cứu, khai thác thật hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên này. Trong suốt chặng đường từ năm 2003 đến nay, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã dần dần khẳng định được vai trò của mình và phát triển trong sự lồng ghép hài hoà giữa hai mục đích lâu dài là bảo tồn đa dạng sinh học tài nguyên – môi trường biển và góp phần phát triển kinh tế cho cộng đồng người dân địa phương tại quần đảo. Nhiều hoạt động của khu bảo tồn được tổ chức liên quan đến truyền thông nâng cao nhận thức, đào tạo nâng cao năng lực, phát triển sinh kế thay thế, tuần tra – giám sát, kế hoạch quản lý, du lịch sinh thái, vệ sinh môi trường, nghiên cứu ứng dụng…nhằm vào mục tiêu gắn kết và chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước và cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường tại quần đảo Cù Lao chàm theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm cùng hưởng lợi [4].

Rua_bien_article_4

Hình 4: Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và Phân bố các quần cư chủ yếu (rạn san hô, thảm cỏ biển và thảm rong biển) trong KBTB Cù Lao Chàm năm 2008 [2].

Rua_bien_article_5

Hình 5: Người dân Đà Nẵng và Hội An tình nguyện thả rùa biển được nuôi trong nhà của mình về với cuộc sống hoang dã của chúng tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm nhân Ngày Môi trường Thế giới 5/6/2011 (photo: Chu Mạnh Trinh).

Theo quá trình ấy, trách nhiệm đối với các nguồn tài nguyên – môi trường mục tiêu, trong đó có rùa biển đã dần dần được người dân địa phương trong và xung quanh khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm chia sẻ và gánh vác, đặc biệt một khi họ nhận thấy được lợi ích mang lại từ công việc bảo tồn [4]. “Nếu như cách đây 5 năm, việc giết và ăn thịt rùa biển có thể được tìm thấy đâu đó trong các làng chài ven biển hoặc thậm chí trong khu bảo tồn, thì hôm nay, chúng ta có thể tự hào khi liên tục được người dân gọi điện xin được thả các con rùa biển “bắt” được hoặc đang nuôi vào trong khu bảo tồn biển về với đời sống hoang dã của chúng”, như theo lời kể của chị Trần Thị Hồng Thuý – Giám đốc Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Và chúng ta cảm động biết bao khi nhận ra rằng Khu Bảo tồn biển đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rùa biển – loài đang đứng bên bờ tuyệt chủng trên khắp thế giới.

Chu Mạnh Trinh - BQL KBTB Cù Lao Chàm


Newer news items:
Older news items:

...